Giới thiệu, cài đặt và cấu hình APACHE

23/02/2016 Nguyễn Trung Hiếu

Nếu bạn là người mới bắt đầu với PHP thì hãy tìm hiểu ngày APACHE là một webserver

1.1. Giới thiệu Apache HTTP Server

Dự án Apache là một sự cố gắng phát triển phần mềm cộng tác nhắm đến việc tạo ra một HTTP server mạnh mẽ, có hạng thương mại, được đề cao,và mã nguồn thực hiện miễn phí. Dự án được tham gia quản lý bởi một nhóm người tình nguyện trên toàn thế giới sử dụng internet và Web để truyền thông , dựng kế hoạch và phát triển server . Những người tình nguyện này được biết đến như là nhóm Apache. Thêm nữa, hàng trăm người sử dụng đã đóng góp các ý tưởng, mã và các tài liệu cho dự án.
Vào khoảng tháng 2 năm 1995, phần lớn phần mềm server được ưa chuộng trên web là tên miền HTTP daemon công cộng được phát triển bởi Rob McCool tại trung tâm quốc gia của các ứng dụng siêu máy tính, trường đại học Illinois, Urbana-Champaign.
Tuy nhiên, sự phát triển httpd đó đã bị ngưng trệ sau khi Rob rời NCSA vào khoảng giữa năm 1994, và rất nhiều nhà phát triển web đã phát triển phần mở rộng của chính họ và khắc phục lỗi trong sự cần thiết của một sự phân phát chung. Một nhóm nhỏ của các nhà phát triển web này, đã kết hợp với nhau thông qua e-mail là chính, kết hợp cùng với nhau cho mục đích phối hợp những thay đổi của họ ( trong hình thức các miếng vá).
Bằng cách dùng httpd 1.3 làm nền, họ đã thêm vào toàn bộ các miếng vá đã được công bố và các tính năng cao cấp khác, thử nghiệm trên chính các server của họ, và cho ra đời phiên bản công khai chính thức đầu tiên (0.6.2) của server Apache trong tháng 4 năm 1995.
Server Apache ban đầu đã là một sự thành công lớn, nhưng họ cho rằng mã ban đầu cần phải được kiểm tra kỹ lưỡng và thiết kế lại. Trong suốt tháng 5 năm và tháng 6 năm 1995, Robert Thau đã thiết kế một kiến trúc server mới( mã được đặt tên là Shambhala) nó bao gồm một cấu trúc module và API cho việc mở rộng được tốt hơn. Nhóm làm việc đã chuyển sang nền server mới này từ tháng sáu và đã thêm các đặc điểm từ phiên bản 0.7.x, đưa đến kết quả trong Apache 0.8.8 ( và các anh em của nó) trong tháng tám.
Sau khi phát hành rộng rãi bản thử nghiệm beta, rất nhiều lỗ hổng trong các nền khác nhau đã được tìm thấy, một tập tài liệu mới ( của David Robinson), và quá trình thêm rất nhiều các chức năng trong dạng của các module chuẩn của họ, Apache 1.0 đã được phát hành vào ngày1 tháng 12 năm 1995.
Theo đánh giá của Netcraft (http://www.netcraft.com/survey/) chỉ ra rằng ngày nay Apache được sử dụng một cách rộng rãi hơn so với tất cả các web server đã được tổng hợp.
1.2. Sử dụng Apache với Microsoft Windows
1.2.1. Các yêu cầu:
Apache 1.3 được thiết kế trên Windows NT 4.0 và Windows 2000. Trình cài đặt nhị phân sẽ chỉ làm việc với họ vi xử lý x86,ví dụ như của hãng Intel. Apache cũng có thể chạy trên Windows 95 và 98. Trong mọi trường hợp, TCP/IP networking phải được cài đặt. Nếu chạy trên NT 4.0 thì phải chắc rằng máy đã được cài đặt Service Pack 3 hoặc Service 6. Chú ý: "Winsock 2" phải được yêu cầu cho Apache 1.3.7 và các bản sau này. Nếu chạy trên Windows 95, bản nâmg cấp "Winsock2" phải được cài đặt trước khi Apache chạy. "Winsock2" cho Windows 95 có sẵn tại các địa chỉ: http:// www.microsoft.com/windows95/downloads. Bản cập nhật Winsock2 phải được cài đặt lại sau khi cài đặt Windows 95 dialup networking.
1.2.2. Downloading Apache cho Windows
Thông tin về phiên bản mới nhất cho Apache có thể được tìm thấy trên webserver của Apache tại http://www.apache.org/. Tại đây sẽ liệt kê phiên bản phát hành và các bản phát hành thử. Có thể download bản nhị phân của Apache cho Windows được đặt tên như: apache_1_3_#-win32with_src.msi nếu muốn nghiên cứu mã nguồn của Apache thì ta có thể tải bản apache_1_3_#-win32no_src.msi. Các bản này đều đã có đủ Apache runtime. Trước khi cài đặt Apache runtime, trong máy PC phải được cài Microsoft Installer version 1.10. Windows 2000 và Windows ME đều đã được hỗ trợ Microsoft Installer,còn nếu không thì ta phải download trên trang web của Microsoft. 2.3_Cài đặt Apache trên Windows Chạy file Apache .msi mà ta đã download về. Sẽ có một số lời nhắc như:
   • Tên của ta và tên của công ty ta, và trên Windows NT/2000, có thể ta muốn tất cả user truy cập vào Apache như là một dịch vụ, hoặc nếu ta muốn cài đặt để chạy khi ta chọn Start Apache shortcut.

   • Tên Server của ta, tên Domain và tài khoản quản trị của ta.

   • Thư mục mà ta muốn cài đặt Apache (mặc định là C:\Program Files\Apache Group\Apache mặc dù ta có thể thay đổi điều này tới bất kỳ thư mục nào ta thích)

   • kiểu cà đặt. Tuỳ chọn "Complete" sẽ cài đặt tất cả mọi thứ, bao gồm mã nguồn nếu ta download gói -with_src.msi . Chọn cài đặt "Custom" nếu ta chọn không cài đặt tài liệu, hoặc mã nguồn từ gói.


Trong quá trình cài đặt, Apache sẽ cấu hình các file trong thư mục conf cho sự lựa chọn thư mục cài đặt của ta.Tuy nhiên, nếu có bất kỳ một file nào trong thư mục này thì chúng cũng không bị ghi đè. Thay vào đó, bản copy mới sẽ được gán với đuôi .default.
Sau khi cài đặt Apache, ta sẽ phải biên tập file cấu hình trong thư mục conf, điều này là bắt buộc. Các file này sẽ được cấu hình trong quá trình cài đặt để chuẩn bị cho Apache được chạy từ thư mục mà nó đã được cài đặt, với các tài liệu được đáp ứng trong thư mục con htdocs.Có rất nhiều các tuỳ chọn sẽ được thiết lập trước khi ta thực sự bắt đầu sử dụng Apache.Tuy nhiên, để có thể bắt đầu một cách nhanh chóng, các file sẽ được thực hiện như khi đã được cài đặt.Nếu ta muốn rỡ bỏ Apache, các file cấu hình sẽ không bị bỏ đi. Ta phải xoá cây thư mục ("C:\Program Files\Apache Group" là mặc định) nếu ta thấy không cần thiết giữ các file cấu hình và các file web của ta.

1.2.4. Chạy Apache trên Windows
Có hai cách ta có thể chạy Apache:
• Như là một "service" (chỉ được kiểm tra trên NT/2000 , nhưng bản thực nghiệm cũng có sẵn cho 95/98). Đây là tuỳ chọn tốt nhất nếu ta muốn Apache tự động khởi động khi máy của ta boot, và giữ cho Apache luôn chạy khi ta log-off.

• Từ một console window. Đây là tuỳ chọn tốt nhất cho người sử dụng trên Windows 95/98 .
Các bước thực hiện trước khi bắt đầu Apache như là một dịch vụ Windows
Để chạy Apache từ một cửa sổ , chọn thuỳ chọn "Start Apache as console app" từ menu Start menu (trong Apache 1.3.4 và các bản sớm hơn, tuỳ chọn này được gọi là "Apache Server"). Điều này sẽ mở ra một cửa sổ console và bắt đầu Apache chạy trong đó. Màn hình này vẫn sẽ còn đó cho đến khi ta dừng Apache. Để dừng Apache khi nó đang chạy, có thể chọn biểu tượng"Shutdown Apache console app" từ menu Start(Điều này khônng có trong Apache 1.3.4 hoặc các bản sớm hơn, hoặc có thể dùng các lệnh điều khiển Apache trong màn hình console. Trong các phiên bản Apache 1.3.13 và trước đó, ta có thể gõ Ctrl+C hoặc Ctrl+Break để tắt màn hình Apache console.Và trên Windows NT/2000 với phiên bản 1.3.13, Apache sẽ dừng nếu ta chọn 'Close' từ menu hệ thống (bấm vào biểu tượng trên góc trên trái của màn hình console) hoặc bấm vào nút (X) trên góc phải màn hình console.
Thử Apache cho Windows
Nếu gặp trục trặc khi bắt đầu khởi động Apache, hãy theo các bước dưới để cô lập vấn đề. Điều này được ứng dụng nếu ta bắt đầu Apache với shortcut "Start Apache as a console app" từ menu Start và màn hình console đột nhiên tắt hoặc nếu ta gặp trục trặc khi khởi động Apache như là một dịch vụ. Chạy "Command Prompt" từ Start Menu - Programs . Chuyển đến thư mục mà ta đã cài Apache, đánh lệnh apache, và đọc thông báo lỗi. Sau đó xem trước file error.log để tìm hiểu các lỗ. Nếu ta chấp nhận các mặc định khi ta cào đựt Apache, câu lệnh sẽ là: c: cd "\program files\apache group\apache" apache Wait for Apache to exit, or press Ctrl+C more <logs\error.log Sau khi xem file error.log, ta có thể thấy được lỗi đó là gì và biết cách khắc phục chúng và thử lại lần nữa. Sau khi khởi động, Apache sẽ chạy (hoặc trong một màn hình console window hoặc là một dịch vụ) nếu được listening tới cổng 80 (Nếu ta không thay đổi Port, Listen hoặc BindAddress chỉ dẫn trong các file cấu hình). Để kết nối vào server và truy cập vào trang web mặc định, chạy trình duyệt và nhập vào địa chỉ URL như sau: http://localhost/ Điều này sẽ phản hồi lại với một trang chào mừng, và một liên kết đến trang sách học Apache. Nếu không có gì xảy ra hoặc có một lỗi xuất hiện, hãy xem file error.log trong thư mục logs. Nếu máy của ta không kết nối vào internet, ta phải nhập vào dòng địa chỉ URL như sau: http://127.0.0.1/ Một khi các cài đặt đang làm việc, ta sẽ phải cấu hình chính xác bằng cách biên tập các file trong thư mục conf.

Bởi vì Apache không thể chia sẻ cùng một cổng với một ứng dụng TCP/IP khác, ta phải dừng hoặc dỡ bỏ các dịch vụ nào đó trước. Điều này bao gồm cả các web server khác và các sản phẩm firewall như Blackile.Nếu ta chỉ có thể chạy Apache khi dừng các dịch vụ này, hãy cấu hình lại Apache hoặc các sản phẩm khác sao cho chúng không chung cổng listen TCP/IP.Có lẽ ta phải chạy dòng lệnh "netstat -an" để xem cổng nào đã được sử dụng.

1.2.5. Cấu hình Apache trên Windows

Apache được cấu hình bởi các file trong thư mục conf . Đây cũng là các file được sử dụng để cấu hình cho phiên bản Unix nhưng cũng có một số chỉ dẫn khác trên phiên bản Apache cho Windows. Bắt đầu cấu hình Apache server bằng cách xem trước httpd.conf và các lời hướng dẫn của nó. Mặc dù các file access.conf và srm.conf đều tồn tại, đây là các file cũ thường không được sử dụng bởi hầu hết các nhà quản trị , và bạn cũng không thấy những lời hướng dẫn ở đây. httpd.conf chứa tài liệu thật tuyệt vời, bằng cách theo các hướng dẫn cấu hình mặc định được khuyên dùng khi bắt đầu với Apache server. Bắt đầu bằng cách đọc các chú thích này để hiểu file cấu hình ,và thực hiện một số nhỏ các thay đổi,bắt đầu Apache trong một màn hình console với mỗt thay đổi. Nếu bạn gặp phải lỗi, thật dễ dàng để sao lưu để cấu hình những gì đã làm lúc cuối cùng. Bạn sẽ có một ý tưởng tốt để hiểu thay đổi nào gây nên lỗi cho server. Những điều khác nhau chính trong Apache cho Windows là:

- Bởi vì Apache cho Windows là đa luồng, nó không sử dụng một tiến trình riêng biệt cho mỗt yêu cầu như Apache trên Unix. Thay vào đó chỉ có 2 tiến trình đang chạy: một tiến trình cha và một tiến trình con để đón chờ các yêu cầu. Trong tiến trình con mỗi yêu cầu được đón chờ bởi một luồng riêng biệt. Bởi vậy,"cách thức"-các lời chỉ dẫn quản lý là khác nhau: o MaxRequestsPerChild - Giống như chỉ thị Unix, nó điều khiển có bao nhiêu yêu cầu mà một tiến trình sẽ phục vụ trước khi tồn tại. Tuy nhiên, không giống như Unix, một tiến trình sẽ phục vụ tất cả các yêu cầu cùng một lúc, không chỉ một, bởi vậy nếu điều này được lập, sẽ có một số lớn được sử dụng. Điều khuyên dùng là mặc định, MaxRequestsPerChild 0, không làm cho tiến trình kết thúc mãi mãi.

   + ThreadsPerChild - Chỉ thị này là mới, và chỉ cho server biết có bao nhiêu luồng nó sẽ dùng. Đây là con số lớn nhất các kết nối mà server có thể đón chờ cùng một lúc; phải chắc chắn và thiết lập số này đủ lớn cho trang của bạn nếu bạn có nhiều việc thành công. Giá trị mặc định khuyên là ThreadsPerChild 50.

- Các chỉ thị chấp nhận tên file làm đối số bây giờ phải dùng tên file của windows thay vì như unix trước đây.Tuy nhiên, bởi vì Apache sử dụng tên kiểu cách Unix cục bộ, bạn phải sử dụng dấu gạch chéo trước, không phải là dấu gạch chéo sau. Các tên chữ cái của ổ đĩa có thể được dùng, nếu bị bỏ sót, ổ đĩa với khả năng thực thi của Apache sẽ được thừa nhận.

- Apache cho Windows có khà năng load các module trong thời gian chạy mà không cần biên dịch lại server. Nếu Apache được biên dịch một cách thông thường, nó sẽ cài đặt một số các module tuỳ chọn trong thư mục \module. Để kích hoạt điều này, hoặc các module khác, chỉ thị LoadModule phải được dùng. Ví dụ, để kích hoạt module trạng thái, ta làm như sau ( thông tin thêm về các chỉ thị kích hoạt trạng thái trong file conf):

    LoadModule status_module modules/mod_status.so

- Thông tin về việc tạo các module có khả năng tải cũng có sẵn. Chú ý một vài module của các hãng thứ 3 có thể được phát hành với các kiểu cách đặt tên cũ, ApacheModuleFoo.dll. Thường xuyên thiết lập lệnh LoadModule theo hướng dẫn trong các tài liệu của các hãng thứ 3.

- Apache cho Windows phiên bản 1.3 được thực hiện trong các cuộc gọi đồng bộ. Điều này gây ra một vấn đề to lớn cho các tác CGI , người sẽ không thấy các kết quả không được đệm được gửi trực tiếp tới trình duyệt. Điều này không được mô tả cho CGI trong Apache, nhưng nó có tác động hiệu quả với cổng Windows. Apache 2.0 được cải tiến để thực hiện các tình trạng không đồng bộ được mong chờ, và chúng ta hi vọng tìm ra rằng sự thực thi trong Win NT/2000 cho phép CGI được đối xử như tài liệu đã được cung cấp.

- Apache cũng có thể nạp các phần mở rộng của ISAPI (ví dụ: Internet Server Applications), như thể chúng được dùng bởi Microsoft's IIS, và các server Windows khác. Chú ý rằng Apache không nạp các bộ lọc ISAPI.

Chạy Apache trong một Console Window

Biểu tượng menu Start và  trình quản lý dịch vụ NT có thể cung cấp một giao diện đơn giản cho việc quản trị Apache. Nhưng một số trường hợp thì dễ dàng hơn khi làm việc từ dòng lệnh.

Khi làm việc với Apache ta phải biết bằng cách nào nó sẽ tìm các file cấu hình. Ta có thể chỉ ra một file cấu hình cụ thể trên dòng lệnh qua hai cách:

   -f chỉ ra một đường dẫn tới một file cấu hình chuyên biệt:

   apache -f "c:\my server\conf\my.conf"     apache -f test\test.conf

-n chỉ ra file cấu hình của một dịch vụ Apache đã được cài đặt (Apache 1.3.7 và sau này):

apache -n "tên dịch vụ "

Trong các trường hợp này, ServerRoot thật sự sẽ được thiết lập trong file cấu hình.

Nếu ta không chỉ ra một tên file cấu hình với -f hoặc -n, Apache sẽ sử dụng tên file được biên dịch trong server, thông thường là "conf/httpd.conf". Gọi  Apache với chuyển dịch –V sẽ hiển thị giá trị này được gán nhãn là SERVER_CONFIG_FILE. Apache tiếp đến sẽ định rõ ServerRoot của nó bằng cách cố gắng thực hiện theo trình tự như sau:

  • Một chỉ thị ServerRoot thông qua một chuyển tác -C .
  • Chuyển tác -d trên dòng lệnh.
  • Thư mục hiện tại đang làm việc.
  • Một đầu vào đăng ký , được tạo nếu bạn đã thực hiện cài đặt nhị phân.
  • Server root đã được biên dịch trong server.

Server root được biên dịch trong server thông thường  là "/apache". Thực hiện apache với chuyển tác -V sẽ hiển thị giá trị này được gán nhãn là  HTTPD_ROOT.

Khi được thực hiện từ menu start, Apache thông thường bỏ qua các đối số, bởi vậy sử dụng đầu vào nơi đăng ký là kỹ thuật được yêu thích hơn cho console Apache. Trong khi cài đặt nhị phân, một khoá đăng ký sẽ được cài đặt, ví dụ:   HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Apache Group\Apache\1.3.13\ServerRoot

Khoá này được biên dịch trong server và có thể cho phép bạn kiểm tra các phiên bản mới mà không gây nên hậu quả cho phiên bản hiện tại. Dĩ nhiên ta phải cẩn thận không cài đặt phiên bản mới lên trên phiên bản cũ trong hệ thống file.

Nếu bạn không thực hiện cài đặt nhị phân khi đó Apache sẽ trong một số tình huống gây lỗi về việc thiếu khoá đăng kí. Cảnh báo này có thể bỏ qua nếu có thể tìm thấy các file cấu hình của nó. Giá trị của khoá này là thư mục "ServerRoot" , chứa thư mục conf . Khi Apache bắt đầu, nó sẽ đọc file httpd.conf từ thư mục này. Nếu file này chứa một chỉ thị ServerRoot khác với thư mục mà có khoá trước đó, Apache sẽ quên khoá đăng kí và sử dụng thư mục từ file cấu hình. Nếu bạn copy thư mục Apache hoặc các file cấu hình tới một vị trí mới điều quan trọng là ta cập nhật thư mục ServerRoot trong file httpd.conf tới vị trí mới.

Để chạy Apache từ dòng lệnh như là một ứng dụng console, sử dụng lệnh sau:     apache

Apache sẽ thực thi và sẽ còn chạy cho đến khi ta nhấn phím ctrl- C.

Điều khiển Apache trong một màn hình Console

Ta có thể chỉ cho Apache trong khi đang chạy phải dừng bằng cách mở một màn

hình console khác và chạy lệnh:

    apache -k shutdown

Chú ý: Tuỳ chọn này chỉ có thể có hiệu lực với Apache 1.3.3 và sau này.

Với các phiên bản trước, bạn phải dùng ctrl-C trong màn hình console để tắt server.

Từ phiên bản 1.3.3 tới 1.3.12, điều này sẽ thay cho việc nhấn ctrol-c trong một màn hình console Apache, bởi vì nó cho phép Apache kết thúc bất kỳ các giao dịch hiện thời và thu gọn nhanh chóng.

Tới phiên bản 1.3.13 khi nhấn Control-C trong màn hình đang chạy sẽ làm sạch Apache khá tốt, và bạn có thể dùng –k stop như là một bí danh cho –k shutdown .Các phiên bản trước đó không hiểu –k stop.

Ta cũng có thể chỉ cho Apache khởi động lại. Điều này làm cho nó đọc lại các file cấu hình. Bất kỳ giao dịch nào trong phát triển đều được phép hoàn thiện mà không cần ngắt quãng. Để khởi động lại Apache, chạy:

    apache -k restart

Chú ý: Tuỳ chọn này chỉ có được trong Apache 1.3.3 và sau này. Với các phiên bản trước, ta cần phải dùng Control-C trong màn hình Apache console để tắt server, và khởi động lại với lệnh của Apache.

Chức năng khác rất hữu dụng là tuỳ chọn kiểm tra các file cấu hình .Để kiểm tra các file cấu hình , chạy:

    apache -t

Đây là sự thay đổi sau này đặc biệt hữu dụng với các file cấu hình trong khi Apache thậm chí đang chạy. Ta có thể thực hiện một số thay đổi, khẳng định là cú pháp lệnh "apache -t" là chính xác, kế đến khởi động lại Apache với "apache -k restart". Apache sẽ đọc lại các file cấu hình, cho phép bất kỳ giao dịch nào trong sự tiến triển để hoàn thành mà không phải ngắt quãng.Bất kỳ yêu cầu mới nào cũng sẽ được phục vụ sử dụng cấu hình mới.

Chú ý: Với những người quen thuộc với Apache cho Unix các lệnh này cung cấp một sự tương đương với Windows để kill -TERM pid  và kill -USR1 pid. Tuỳ chọn dòng lệnh được dùng, -k, đã được chọn như là một nhắc nhở lệnh "kill" được sử dụng trong Unix.

Tag: APACHEHTTP SERVERPHPMYSQL

Đang phát triển ...

Bài viết liên quan

Hàm SLEEP trong PHP

Có những lúc trong công việc lập trình ta cần mã tạm dừng theo một thời gian định trước thì trong php có hỗ trợ hàm sleep để các bạn làm điều này.

Hàm Rand trong PHP

Đôi lúc chúng ta lập trình cần đến những con số sinh ngẫu nhiên vào những công việc khách nhau hôm này mình xin giới thiệu với mọi người hàm sinh số ngẫu nhiên trong PHP

Bài 9: Giới thiệu lập trình hướng đối tượng trong PHP (OOP)

Các bạn tự học PHP nên biết về lập trình hướng đối tượng trong PHP, kỹ thuật lập trình hỗ trợ công nghệ đối tượng

Bài 8: Hàm có sẵn thông dụng trong PHP

Hàm thông dụng trong php cần biết, các bạn mới bắt đầu lên nắm rõ ý nghĩa cấu trúc cách dùng những hàm này để bổ trợ kiến thức sau này

Bài 7: Hàm trong PHP

Hàm do người sử dụng định nghĩa cho phép bạn xử lý những tác vụ thường lặp đi lặp lại trong ứng dụng. cách khai báo, cú pháp của hàm trong php

Bài 6: Session và Cookies trong PHP

Để chuyền biến từ trang web này sang trang web khác như bài trước ta có thể dung biến form, nhưng như vây hơi phức tạp để áp dụng đối với một số trường hợp bài này chúng ta sẽ tìm hiểu session và cookie để có lựa chọn tốt hơn

Bài 5: Làm việc với biến form trong PHP

Các form nhập liệu trong html rất quan trọng nó giúp server giao tiếp với người dùng một cách hiệu quả như kiểm tra đăng nhập, hay gửi thông tin liên hệ email ...

Bài 4: Phép toán và biểu thức có điều kiện trong PHP

Trong bài học này các bạn sẽ tìm hiểu các phép gán, các toán tử, đồng thời giúp cho các bạn hiểu thêm vào các phát biểu có điều kiện như while, for, switch, …. 

Bài 3: Hằng trong PHP

Trong bài này, chúng ta tìm hiểu cách khai báo hằng, biến và sử dụng hằng biến. Ngoài ra, bạn cũng tìm hiểu cách chuyển đổi kiểu dữ liệu

Bài 2: Kiểu dữ liệu trong PHP

Tìm hiểu cơ bản về các kiểu dữ liệu trong ngôn ngữ lập trình PHP

Bài 1: Cú pháp cơ bản trong ngôn ngữ PHP

Về cơ bản ngôn ngữ lập trình php là ngôn ngữ dễ sử dụng, thông dụng hiện này, mạnh mẽ, vì là mã nguồn mở được sử dụng rộng dãi lên khá nhiều support cho các bạn

Tìm hiểu, giới thiệu ngôn ngữ PHP

PHP là một ngôn ngữ kịch bản phía máy chủ được nhúng trong HTML. Nó được sử dụng để quản lý nội dung động, cơ sở dữ liệu, theo dõi phiên, thậm chí xây dựng toàn bộ các trang web thương mại điện tử.

Lỗi nguy hiểm của Apache version 2.4.17 đến 2.4.38

Lỗi nguy hiểm của Apache version 2.4.17 đến 2.4.38

Chúng tôi nhận được cảnh báo bảo mật nguy hiểm đối với các bản Apache version 2.4( từ 2.4.17 đến 2.4.38) đây là lỗi cực kỳ nguy hiểm cho phép kẻ tấn cống có khả năng chiếm quyền root(đặc biệt là các máy chủ sử dụng cho dịch vụ Web Hosting).

Kỹ thuật tìm kiếm và thay thế từ cơ bản đến nâng cao trong MS Office (Word)

Kỹ thuật tìm kiếm và thay thế từ cơ bản đến nâng cao trong MS Office (Word)

Trong Word nói riêng, Office nói chung, có lẽ ai cũng biết chức năng tìm kiếm và thay thế nội dung văn bản, nhưng ngoài ra, còn nhiểu chức năng khác trong hộp thoại tìm kiếm và thay thế mà không phải ai cũng biết để sử dụng. Trong đó có tìm kiếm và thay thế định dạng, sử dụng các ký hiệu đại diện, các ký tự đặc biệt… 

Bài 6: Thủ thuật outlook 2010

Bài 6: Thủ thuật outlook 2010

Bài viết giới thiệu đến các bạn một số thủ thuật được dùng trong outlook 2010, để giúp công việc của các bạn được dễ dàng hơn.

Bài 5: Quản lý các thông tin trong  outlook 2010

Bài 5: Quản lý các thông tin trong outlook 2010

Bài viết giới thiệu về phương pháp quản lý thông tinn trong outlook 2010. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem có điểm gì khác và nổi bật so với outlook 2007

Bài 4: Sử dụng lịch làm việc một cách hiệu quả outlook 2010

Bài 4: Sử dụng lịch làm việc một cách hiệu quả outlook 2010

Để công việc của đạt hiệu quả cao hơn, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu cách sử dụng lịch làm việc một cách hiệu quả hơn trong outlook 2010

Bài 3: Quản lý hộp thư của bạn về dung lượng và lưu trữ outlook 2010

Bài 3: Quản lý hộp thư của bạn về dung lượng và lưu trữ outlook 2010

Bài viết sau đây sẽ giới thiệu về mục quản lý hộp thư của bạn về dung lượng và lưu trữ trong microsoft outlook 2010.